Hiển thị các bài đăng có nhãn người nhật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn người nhật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2013

Hoàng gia Nhật dạy con thế nào?

Là người thứ 3 trong thứ tự kế vị ngai vàng nhưng không giáo viên nào ở trường tiểu học mới của hoàng tử bé Nhật Bản gọi tên cậu kèm theo chức vị.

hoang-gia-nhat-day-con-the-nao
Là con trai duy nhất của hoàng tử và công chúa Akishino, hoàng tử bé vừa nhập học trường tiểu học thuộc ĐH Ochanomizu ở Bunkyo, Tokyo. Cậu là thành viên nam đầu tiên trong gia đình hoàng gia thời kỳ hậu Thế chiến thứ 2 không theo học Trường tiểu học Gakushuin – ngôi trường mà các thành viên hoàng gia thường theo học.
Quyết định này được cho là một nỗ lực của cha mẹ cậu nhằm giúp con trai được nhận một nền giáo dục bình thường như những đứa trẻ khác và không có bất cứ sự đối xử đặc biệt nào. Một ngày nào đó hoàng tử bé Hisahito sẽ kế vị ngai vàng và việc đi học ở một ngôi trường bình thường sẽ giúp cậu chuẩn bị cho một vị trí là biểu tượng của cả Nhà nước và sự thống nhất của người dân Nhật Bản.

JAPAN/
JAPAN/
"Akishinonomiya Hisahito” - Trong buổi lễ khai giảng, một giáo viên đã đọc to tên của hoàng tử bé mà không kèm theo bất cứ chức danh nào – giống như những học sinh bình thường khác.
“Vâng” – hoàng tử bé đáp lại một cách nhiệt tình.
Với mong muốn cho con trai làm quen với những đứa trẻ khác cùng lứa, cha mẹ hoàng tử đã đăng ký cho cậu con trai vào học trường mẫu giáo liên kết với ĐH Ochanomizu vào tháng 4/2010.
Đôi khi, bố cậu – hoàng tử Akishino nói: “Chúng tôi muốn thằng bé học dần cách điều khiển một cuộc sống bình thường khi nó lớn lên thông qua trường tiểu học và trung học”.
Giáo viên và bạn bè ở lớp mẫu giáo gọi hoàng tử là Hisahito-kun và cậu không được đối xử đặc biệt hơn những người khác. Mặc dù hoàng tử và bạn bè cùng trường sẽ dần hiểu được vị trí đặc biệt của cậu trong 6 năm học tới, song nhà trường cho biết hiện tại họ không có ý định đối xử đặc biệt với hoàng đế tương lai.
Quyết định tự nhiên
JAPAN/
Hoàng tử bé Hisahito cùng bố mẹ trong lễ tốt nghiệp mầm non
Nói về quyết định không cho hoàng tử học trường tiểu học liên kết với ĐH Gakushuin, Cơ quan điều hành hoàng gia nói: “Đó rõ ràng là một quyết định tự nhiên. Nó đánh giá cao mối quan hệ bạn bè và môi trường bình dân”.
Tại trường Gakushuin, các thành viên hoàng gia đều được gọi là “miya sama” (hoàng tử hoặc công chúa). Ngoài ra, nhiều học sinh trong lớp đều là con cháu của các cựu thành viên hoàng gia hoặc quý tộc – ông Motomasa Higashisono, giám đốc cấp cao của Công ty trường Gakushuin cho biết.
Ngược lại, học sinh của trường Ochanomizu xuất phát từ nhiều tầng lớp khác nhau. Bố mẹ các em có thể là nhân viên văn phòng, công chức, quản lý doanh nghiệp. Mỗi khối của trường này có 105 học sinh được chia thành 3 lớp.
Theo một quan chức của Cơ quan điều hành hoàng gia, trường tiểu học của ĐH Ochanomizu được chọn bởi vì “hoàng tử và công chúa Akishino tin rằng để trở thành biểu tượng của nhà nước trong tương lai, hoàng tử bé phải có những trải nghiệm quý báu khi được học tập với những đứa trẻ có nguồn gốc khác nhau và phải hiểu được cảm xúc của những người dân bình thường”.
JAPAN/
Hoàng tử bé Hisahito cùng bố mẹ tới dự lễ khai giảng trường tiểu học
Trước khi lên ngôi, Hoàng đế Showa đã được học những môn học như đạo đức học, lịch sử và quân sự do những học giả và các sĩ quan hàng đầu giảng dạy và được thiết kế dành riêng cho ông.
Ở những trường như Gakushuin, các thành viên hoàng gia thường xuyên được nghe những bài giảng được thiết kế riêng cho mình. Ví dụ như Hoàng Thái tử Naruhito từng được nghe những bài giảng về Luận ngữ của Khổng tử khi ông học tiểu học. Theo quan điểm giáo dục của cha mình, ông cũng được học về những thành tựu và những việc làm của các vị hoàng đế đời trước trong thời gian học trung học.
Mới đây Hoàng tử và công chúa Akishino đã đưa hoàng tử bé Hisahito tới thăm lăng mộ của Hoàng đế Jinmu – hoàng đế đầu tiên của Nhật Bản ở tỉnh Nara và lăng mộ của Hoàng đế Showa, Hoàng hậu Kojun ở Tokyo cũng như đài tưởng niệm Ise Grand Shrines ở tỉnh Mie.
Hoàng tử Hisahito cũng thường xuyên tới thăm ông bà nội, gần đây nhất là tại Cung điện hoàng gia vào cuối tuần.
Ông Takashi Mikuriya – giáo sư khoa học chính trị tại ĐH Tokyo đánh giá cao việc hoàng tử bé sẽ được giáo dục ở một môi trường bình thường. Ông nói: “Các hoàng đế thời tiền chiến hiếm khi bước ra khỏi cung điện. Nhưng sau chiến tranh, hoàng đế đã bắt đầu tương tác với người dân, cầu nguyện cho họ và khuyến khích họ”.
“Quan điểm hiện tại của hoàng gia đang được người dân ủng hộ. Việc một hoàng đế biểu tượng hiểu được cảm xúc của người dân và nói với họ những điều họ cần nghe là rất cần thiết. Điều này chỉ có thể được học khi có những hiểu biết bình dân”.
Hãy du hoc nhat ban để biết thêm cách giáo dục, dạy con của hoàng gia Nhật nói riêng và người nhật bản nói riêng nhé!

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

13 điều đáng học hỏi ở người Nhật Bản

Đất nước và con người xứ sở mặt trời mọc khiến cả thế giới phải nể phục.
1. Bạn có biết rằng trẻ em Nhật làm vệ sinh trường học của chúng mỗi ngày trong vòng 45 phút cùng giáo viên, điều này mở ra một thế hệ người Nhật khiêm tốn và ưa thích sự sạch sẽ.
2. Bạn có biết rằng bất cứ công dân Nhật nào mà có nuôi chó thì phải mang theo túi đựng và túi đặc biệt để hốt phân chó khi chúng ị ra trên đường. Họ giải quyết chuyện đó rất vệ sinh và quyết liệt.
3. Bạn có biết rằng những người lao công (công nhân vệ sinh) ở Nhật được gọi là “Kỹ Sư Sức Khỏe”; họ có thể yêu cầu một mức lương từ 5000 tới 8000 Đô la Mỹ mỗi tháng. Và một người lao công cũng phải trải qua các bài kiểm tra miệng và kiểm tra viết.
4. Bạn có biết rằng nước Nhật không có các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và họ phải chịu đựng hàng trăm trận động đất mỗi năm, nhưng những điều đó cũng không ngăn cản Nhật trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới trong nhiều năm liền (hiện nay phải tạm đứng thứ 3 vì sự trỗi dậy của Trung Quốc).
5. Bạn có biết rằng thành phố Hiroshima chỉ cần 10 năm đã trở lại thời phát triển kinh tế đầy sôi động của mình sau khi xảy ra vụ ném bom nguyên tử của Mỹ.
6. Bạn có biết rằng Nhật ngăn cấm việc nói chuyện điện thoại trên các tàu điện và xe bus. Ngồi trong tàu điện hay xe bus ở Nhật Bản lúc nào cũng yên tĩnh y như trong 1 thư viện. Mọi người đọc sách, nghe nhạc, nhắn tin, làm việc, ngủ gật... nhưng không ai gây ồn ào hay làm phiền người khác. Nếu có nói chuyện cũng rất nhỏ nhẹ và khẽ khàng.
                                    Người Nhật khiến thế giới nể phục bởi phong cách sống của mình. Ảnh: Internet
7. Bạn có biết rằng học sinh Nhật Bản từ năm đầu cho tới năm thứ 6 tiểu học phải học về những nguyên tắc xử thế (tạm gọi là đạo đức học thiết thực) để giao tiếp với những người xung quanh.
8. Bạn có biết rằng người Nhật tuy là dân tộc giàu có hàng nhất nhì thế giới, họ cũng không có người giúp việc (osin). Trong gia đình thì cha mẹ chịu trách nhiệm chăm lo nhà cửa và con cái.
9. Bạn có biết rằng không có bất cứ kỳ thi nào từ lớp 1 cho tới lớp 3 ở cấp tiểu học; bởi vì mục tiêu của giáo dục là truyền đạt các khái niệm và xây dựng nhân cách, không phải là thi thố và nhồi sọ.
10. Bạn có biết rằng nếu bạn đến một nhà hàng ăn món tự chọn tự phục vụ (buffet) ở Nhật, bạn sẽ thấy người ta chỉ ăn vùa đủ mà không lãng phí. Không có thức ăn thừa.
11. Bạn có biết rằng tỷ lệ tàu lửa hay tàu điện đến trễ ở Nhật chỉ khoảng 7 giây mỗi năm! Người Nhật trân trọng giá trị thời gian, đến từng phút từng giây.
12. Bạn có biết rằng trẻ em từ khi học mẫu giáo đã tự làm sạch răng và chải răng sau mỗi bữa ăn ở trường; chúng duy trì việc tự chăm sóc sức khỏe ngay từ thuở nhỏ.
13. Bạn có biết rằng sinh viên/học sinh Nhật dành ra khoảng nửa tiếng để ăn một bữa, để đảm bảo cho việc ăn chậm và tiêu hóa tốt. Khi được hỏi về vấn đề này, người Nhật nói: Vì những sinh viên/học sinh đó là tương lai của nước Nhật!
Theo General Knowledge | du hoc Nhat Ban Hoa Sen sưu tầm

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2013

Khám phá thói quen tắm gội của người Nhật

Việc thay đổi thói quen tắm gội của người Nhật :

Thói quen mỗi ngày đều phải bước vào bồn tắm của người Nhật được công nhận là hiếm có trên toàn thế giới. Nhưng gần đây thói quen tắm gội của người Nhật cũng dường như đang dần thay đổi.


Nhiệt độ và thể tích bồn tắm của người Nhật và người Âu Mĩ

Số lần tắm rửa

Như vậy , trong thực tế, số lần Người Nhật bản đi tắm khoảng bao nhiêu ?
Trung bình người Nhật đi tắm khoảng từ 1,1 cho đến 1,4 lần trong một ngày,đó là con số được tổng hợp từ việc tắm bằng bồn và vòi sen. Thông tin trên được lấy từ cuộc điều tra:” mỗi ngày bạn đi tắm bao nhiêu lần?”

Việc tắm bằng bồn và việc chỉ sử dụng vòi sen để tắm

Với lối sống đang được Âu hóa dần của giới trẻ hay tính thông dụng của vòi sen thì số người chỉ sử dụng vòi hoa sen để tắm đang dần dần tăng lên.

Việc tắm bằng bồn và việc chỉ sử dụng vòi sen để tắm

Xuất xứ:Nghiên cứu đời sống sinh hoạt thủ đô ở trung tâm gas OKYO. Nghiên cứu văn hóa sử dụng bồn tắm (2000) thói quen tắm rửa của người hiện đại(2000)Điều tra về việc tắm rửa trong mùa hè.

Quanh năm ngày nào cũng Sử dụng bồn tắm 
12%  
Hầu như là sử dụng quanh năm 
35%  
Nhiều khi chỉ sử dụng vòi sen để tắm trong mùa hè 
43%  
Suốt năm hầu như chỉ sử dụng vòi sen để tắm 
4%  
Cả năm chỉ tắm bằng vòi sen 
1%  

Như có một qui định chung về phương pháp tắm rửa, vào mùa hè thì tắm bằng vòi hoa sen, vào mùa đông thì sử dụng bồn để tắm. Vấn đề này có lẽ xuất phát từ điều kiện khí hậu của Nhật bản( mùa hè nóng gắt, mùa đông lạnh giá).
Trong thực tế, ẩn chứa trong việc tắm bằng vòi sen và bồn tắm đều có những mục đích trên những phương diện khác nhau.

Mục đích của việc tắm bằng bồn tắm:
1. Giữ ấm cơ thể.
2. Thư giãn.
3. Hết mệt mỏi.
4. Nước có thể ngập từ chân đến vai.
5. Làm sạch cơ thể.

Mục đích của việc tắm bằng vòi hoa sen:
1. Tiết kiệm thời gian.
2. Rửa sạch mồ hôi.
3. Tỉnh táo.

Và như vậy, ngày càng có nhiều người để giữ ấm cho cơ thể vào mùa đông thì người ta tắm bằng bể, để tiết kiệm thời gian vào mùa hè người ta sử dụng vòi sen.
Vả lại, tuổi càng thấp, số người sống chung trong một gia đình càng ít thì tỉ lệ số người sử dụng vòi hoa sen để tắm ngày càng cao.

Sống với gia đình và sống một mình 

Việc đun nước sôi để tắm vào buổi tối , theo thứ tự luân phiên từng người sử sụng bồn tắm, việc này dần trở thành một phương pháp trong truyền thống tắm gội của người Nhật bản.

Việc rót nước ấm vào bồn tắm thì được gọi là Ichibanburo ,trước hết là đặc quyền của người chủ gia đình( ví dụ là ông nội). Với lại, trẻ con trong một nhóm, tắm cùng với bố mẹ quả thật như một phương pháp giao tiếp vô cùng hiệu quả.

Hiện tại trên một nửa số gia đình kiểu nhật áp dụng phương pháp từng người theo thứ tự sử dụng bồn tắm. Thế nhưng , vì thời gian sinh hoạt của từng người khác nhau nên cũng có gần một nửa số gia đình vào bồn tắm một cách lung tung.

Mặt khác, 1/3 số người sống độc thân cả năm chỉ tắm bằng vòi hoa sen. Trong số đó, số người dưới 20, trên 50%hầu như không hề sử dụng bồn tắm. khi được hỏi lí do tại sao chỉ sử dụng vòi sen thì được họ trả lời rằng để tiết kiệm thời gian, giảm bớt công sức, tiết kiệm nước , hạn chế nhiên liệu. Giới trẻ vì sống một mình nên dường như đã hình thành một thói quen (kĩ năng có khả năng làm ấm từ nước sôi hay nước trong bồn tắm), dường như việc phải sử dụng nhiều thiết bị khi tắm trong bồn cũng là một lí do để họ tắm bằng vòi sen.

Ngoài ra, trong số những người sống một mình, vào những ngày thường người ta thường chỉ tắm bằng vòi sen để tiết kiệm thời gian, thế nhưng vào những ngày nghỉ cũng có nhiều người sử dụng bồn tắm để thư giãn và lấy lại sức khỏe.

Thời gian tắm gội

Sau đây là bảng thời gian tắm rửa tính theo mức bình quân của người Nhật
THỜI GIAN TẮM GỘI TÍNH THEO TỈ LỆ BÌNH QUÂN CỦA NGƯỜI NHẬT
MÙA HÈ MÙA ĐÔNG
NỮ NAM TOÀN THỂ NỮ NAM TOÀN THỂ
XUẤT XỨ:Nghiên cứu đời sống sinh hoạt thủ đô ở trung tâm gas OKYO. Nghiên cứu văn hóa sử dụng bồn tắm (2000) thói quen tắm rửa của người hiện đại(2000)Điều tra về việc tắm rửa trong mùa hè..

Trường hợp tắm bằng bồn tắm 
Thời gian trong nhà tắm 23p 20p 21p 28p 25p 26p
Thời gian sử dụng vòi sen 6p 5p 6p 7p 6p 7p
Thời gian sử dụng vòi nước 3p 3p 3p --- --- ---
Thời gian trong bồn tắm 8p 7p 7p --- --- 11p

Trường hợp dùng vòi sen 
Thời gian trong phòng tắm 13p 12p 13p 16p 13p 15p
Thời gian dùng vòi sen 8p 8p 8p 10p 9p 10p
Thời gian dùng vòi nước 2p 2p 2p --- --- ---
Thời gian trong bồn tắm 0p 0p 0p 0p 0p 0p

Thời gian cho việc tắm gội

Ở Nhật bản, có một trào lưu khá phổ biến là việc tắm vào buổi tối. Trong những trường hợp sử dụng bồn tắm thì trên 90% được tiến hành vào buổi tối. Trái lại , cũng có trường hợp sử dụng vòi sen vào buổi sáng. Trong những trường hợp sử dụng vòi hoa sen thì có hơn 30% được tiến hành vào buổi sáng. Tuy nhiên, với những trường hợp có trào lưu tập quán tắm vào buổi sáng có trên 10% dù là mùa hè hay mùa đông. Số người tắm bằng vòi sen vào buổi sáng có tới 30-40% nhưng số người Nhật có thói quen sinh hoạt tắm bằng vòi sen thì không thể nói hết được. 

Bí mật trường thọ của người Nhật

Kể từ năm 1947, Bộ Y tế Nhật Bản bắt đầu ghi lại số liệu tuổi thọ của người dân nước này. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2004, người Nhật Bản là người dân sống thọ nhất thế giới với tuổi thọ trung bình là 81,9 tuổi. Kể từ năm 1947, Bộ Y tế Nhật Bản bắt đầu ghi lại số liệu tuổi thọ của người dân nước này. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2004, người Nhật Bản là người dân sống thọ nhất thế giới với tuổi thọ trung bình là 81,9 tuổi.

Và khi xã hội Nhật Bản đang già đi nhanh chóng, không khó để tìm ra những người có thể làm chứng cho vị thế quán quân về tuổi thọ của Nhật Bản: Hơn 1/5 trong số 126 triệu dân Nhật Bản sống đến năm 65 tuổi hoặc già hơn. Trong số những người này, đáng kinh ngạc là hơn 1 triệu người ở tuổi 90 hoặc hơn. Tính trên toàn dân số Nhật Bản, cứ 10.000 dân thì có 14,09 người sống đến trăm tuổi.

Đầu năm nay, cụ bà Yone Minagawa, 114 tuổi, người cao tuổi nhất Nhật Bản đã được công nhận là người cao tuổi nhất thế giới.
Không chỉ có thế. “Tuổi thọ mạnh khoẻ” của Nhật Bản - một chỉ số của WHO dùng để đo số năm mà người ta có khả năng đáp ứng những nhu cầu hàng ngày như ăn, mặc và tự đi toa lét (gọi tắt là HALE) - cũng đứng đầu bảng xếp hạng toàn cầu với mức năm trung bình đạt 75 năm.

Chế độ ăn ít chất béo
Vậy thì bí mật của người Nhật Bản là gì? Hay bí mật đó nằm trong gen? “Không phải thế”, đó là khẳng định của Ichiro Tsuji, giáo sư Sức khoẻ Công cộng trường Graduate School of Medicine thuộc Đại học Tohoku. Giáo sư Tsuji nghiên cứu về sự lão hóa và đã tham gia cuộc khảo sát toàn quốc năm 1998 về những người từ 80 - 85 tuổi.
Theo ông Tsuji, trước chiến tranh, người Nhật Bản sống đoản thọ hơn nhiều so với người phương Tây. Nhưng chỉ trong 20 năm gần đây, họ đã trở thành người sống thọ nhất trên thế giới.
Giáo sư Tsuji cho rằng sự trường thọ của người Nhật Bản là do chế độ ăn lành mạnh, ít chất béo vốn là điều tiêu biểu ở nước Nhật. Chính điều này khiến tỷ lệ các ca đau tim và đột qụy ở Nhật Bản thấp hơn nhiều so với các nước khác. Giáo sư Tsuji cũng đề cập đến hệ thống bảo hiểm y tế công cộng phổ biến ở Nhật Bản đã cho phép tất cả mọi người được chăm sóc sức khỏe với chi phí tương đối rẻ, rồi hệ thống thoát nước thải được cải thiện sau chiến tranh cũng mang lại rất nhiều lợi ích.

Giáo sư Tsuji cho biết khi đi vào điều tra cụ thể hơn, người ta phát hiện thấy các ông bà già cao tuổi thường có "12 thói quen" sau:
* Ăn ba bữa mỗi ngày vào những thời điểm không đổi.
* Nhai kỹ thức ăn.
* Ăn nhiều chất xơ từ rau và hoa quả.
* Uống trà thường xuyên.
* Không hút thuốc.
* Có bác sĩ tại gia.
* Độc lập.
* Tham gia những hoạt động giúp thay đổi tâm trạng.
* Đọc báo.
* Xem tivi.
* Thường xuyên đi ra ngoài.
* Thức dậy và ngủ vào những giờ không đổi.

Tuy nhiên, Giáo sư Tsuji cũng cảnh báo rằng tương lai của tuổi thọ ở Nhật Bản thì không sáng sủa lắm. Trên thực tế, số liệu thống kê trong năm 2005 mà Bộ Y tế Nhật Bản thông báo mới đây cho thấy phụ nữ Nhật Bản vẫn có tuổi thọ cao nhất thế giới nhưng tuổi thọ của nam giới nước này chỉ xếp hạng 4 trên thế giới. Lần đầu tiên trong 32 năm qua, đất nước mặt trời mọc không còn nằm trong top 3 nước cao nhất trên thế giới xét về tuổi thọ của nam giới. Tính chung cả hai giới, tuổi thọ của người Nhật giảm lần đầu tiên trong 6 năm gần đây.


Theo Hoa Sen

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

Vài nét trong văn hoá kinh doanh Nhật Bản


Hầu như chỉ vài năm sau đó, Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi và Nhật bước vào thời kỳ phát triển kinh tế “thần kỳ” của Nhật trong giai đoạn 1966 – 1973 đã giúp Nhật trở thành một cường quốc kinh tế đứng hàng nhất, nhì trên thế giới. Sự phát triển đó được thế giới chú ý và nhiều người đã tìm hiểu những nhân tố nào giúp phục hồi và vươn lên nhanh một cách đáng kinh ngạc. Một trong những nhân tố được chú ý nhiều đó là phong cách hay đặc trưng văn hoá trong kinh doanh của người Nhật chứa đựng trong các mô hình quản lý, sản xuất, tiêu thụ và lưu thông sản phẩm và trong tính cách, tâm lý người Nhật trong khi kinh doanh.
Việc tìm hiểu văn hoá kinh doanh của người Nhật giúp ta giao tiếp xuyên văn hoá được với họ và hiểu được các giá trị đã hình thành nên hành vi và giáo tiếp của họ, cũng như để tránh được những hiểu lầm đáng tiếc có thể xảy ra, tạo được mối quan hệ làm ăn lâu dài và có hiệu quả trong quá trình tiếp xúc với họ. Ngoài ra, qua đó, ta có thể học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm quý báu trong cách phương thức, quan niệm và mô hình quản lý, làm việc hiệu quả của họ…
Ngày nay, rất nhiều người Nhật đã và đang, sẽ làm việc với Việt Nam, mối quan hệ giao thương giữa hai quốc gia ngày càng phát triển hơn. Trong quá trình tiếp xúc, giao thiệp với người Nhật, ít nhiều gì chúng ta thường cảm thấy lúng túng hoặc không hiểu nhiều về họ và ngược lại, khiến cho công việc giữa hai bên không đạt được hiệu quả cao, hoặc chúng ta sẽ mất cơ hội làm ăn hay phải chịu thiệt thòi hơn…. Do vậy, ngày nay việc tìm hiểu về người Nhật và văn hoá kinh doanh của họ dù ít hay nhiều cũng thực sự là rất cần thiết và hữu ích cho chúng ta.
Một số nét về văn hóa kinh doanh của người Nhật
Có rất nhiều (hơn 400) định nghĩa về văn hoá, nhìn chung tất cả định nghĩa đều có nét chung “văn hoá là những hệ thống giá trị do con người sáng tạo ra”. Trong giai đoạn hiện nay, văn hoá được xem là động lực phát triển kinh tế. Thực tế, văn hoá đã đóng vai trò trong sự phát triển kinh tế nhiều quốc gia như vai trò của Khổng Giáo, Phật giáo, Shi n to giáo .. và nhiều giá trị văn hoá truyền thống dân tộc khác trong sự tăng trưởng kinh tế của Nhật, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, … trong đó, rõ ràng nhất là trường hợp Nhật Bản, góp phần hình thành nên nền văn hoá kinh doanh đặc thù của Nhật Bản mà ngày nay nhiều quốc gia phải quan tâm nghiên cứu, học hỏi…
Người Nhật hay thương gia Nhật quan niệm trước hết tự coi mình là một người Nhật thực sự, xí nghiệp là hàng thứ hai. Tìm hiểu văn hoá kinh doanh của người Nhật thì chắc chắn là không thể không tìm hiểu về chủ thể của nền văn hoá kinh doanh đó là người Nhật. Mark Zimmeran – một nhà kinh doanh nổi tiếng người Mỹ, và là cố Chủ tịch Phòng thương mại của Mỹ ở Nhật Bản năm 1981 – đã viết trong cuốn sách nổi tiếng “Làm ăn với người Nhật như thế nào” của ông: “việc nghiên cứu kỹ càng và nghiêm túc tâm lý người Nhật và cấu trúc xã hội của nước Nhật là cực kỳ cần thiết cho việc làm ăn có hiệu quả với người Nhật”.
Người Nhật (Nihonjin): chủ thể của nền văn hoá nói chung và văn hoá kinh doanh của Nhật Bản
Một số đặc trưng tính cách, tâm lý người Nhật: tính cách của người Nhật chịu ảnh hưởng nhiều điều kiện tự nhiên – địa lý, lịch sử – văn hoá – xã hội:
Nhật Bản là một trong những nước có thành phần dân tộc thuần nhất với hơn 99% dân số là người Nhật, số ít ỏi còn lại là người Ainu (một tộc người cổ xưa nhất ở Nhật Bản, chủ yếu sống ở Hokkaido), người Triều Tiên (phần lớn di cư sang trong chiến tranh thế giới lần hai), người Trung Quốc và một số ít các cư dân từ nước khác đến cư trú tập trung theo khu vực riêng. Tuy nhiên, ý thức dân tộc thuần nhất của họ rất cao nên cho dù những người thuộc thiểu số gần 1% dân số dù đã sinh sống ở Nhật lâu đời vẫn không được đa số người Nhật xem là “người Nhật”. Do hầu như thuần nhất như thế, nên Nhật Bản có một nền văn hoá và trạng thái tâm lý khá thống nhất và tự cho họ là dòng giống thượng đẳng, tự tôn dân tộc cao…. Nhật Bản (xứ sở mặt trời mọc) là một quốc gia nằm tách biệt với đại lục, có đến hơn 6.800 hòn đảo lớn nhỏ và 4 đảo lớn (Hokkaido, Honshu, Kyusyu, Shikoku). Tính chất đảo mang đến cho Nhật Bản những khó khăn (khó giao lưu, giao thông …) và thuận lợi (trong lịch sử tránh được các cuộc chiến tranh xâm chiếm của người Trung Hoa, Nguyên Mông …) nhưng đã làm nên tính thống nhất và thuần nhất của nền văn hoá văn minh dân tộc Nhật. Do vị trí đặc biệt này nên người Nhật có được thế chủ động tiếp thu có chọn lọc và tiếp biến các yếu tố văn hoá của các dân tộc khác (Trung Hoa,…) tạo thành nền văn hoá riêng mang bản sắc của họ. Tính chất đảo cũng đem lại cho người Nhật tâm lý “đảo quốc” (shimakuni), khiến họ vừa hiếu khách, vừa dè dặt trong giao tiếp, quan hệ với người khác, vừa tự tôn dân tộc, vừa tự ti, mặc cảm, có thái độ bài ngoại,… Người Nhật luôn vừa muốn nhìn ra thế giới, học hỏi, du nhập những giá trị văn hoá và tiếp thu những thành tựu mới của thế giới vừa rất bảo thủ và thu mình trong việc tiếp thu cái mới, chẳng hạn như các cuộc cải cách trong lịch sử Nhật Bản như Taika (năm 645), cải cách Minh Trị (1868) đều diễn ra sự đấu tranh gay gắt giữa thế lực thủ cựu và tư tưởng mới…
Thiên nhiên của Nhật rất đẹp, nhưng rất khắc nghiệt với khí hậu bốn mùa rõ rệt, thường xảy ra nhiều thiên tai dữ dội như động đất, núi lửa, hạn hán; sóng to bão lớn; địa hình với ¾ là núi đồi, diện tích trồng trọt chỉ chiếm 1/6 và sông ngòi ngắn, tài nguyên thiên nhiên ít ỏi, đất đai không màu mỡ và không thích hợp cho trồng trọt. Tuy nhiên cho đến đầu thế kỷ XX, kinh tế chủ yếu của Nhật Bản là nông nghiệp, đánh bắt cà biển và họ phải bỏ ra rất nhiều công sức lao động, cải tạo đất đai – hình thành nên tính cách gan góc, cần cù, vượt khó truyền thống yêu lao động đến quên mình và nhiệt tình trong mọi lĩnh vực lao động (đặc trưng quan trọng nhất), quý trọng thành quả lao động, tiết kiệm và tạo tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng và tinh thần hoà hợp (wa) rất cao như dựa vào và sống hào hợp với tự nhiên, cùng hiêp lực với nhau chống chọi với thiên tai…. Đồng thời điều kiện địa lý, thiên nhiên vừa đẹp vừa khắc nghiệt, tạo ra một tâm hồn Nhật Bản có nét chung là yêu cái đẹp, theo đuồi sự hoàn thiện không ngừng, tạo ra sự tương phản có tính dữ dội trong tính cách người Nhật. Cái gì ở Nhật Bản cũng được đưa lên cao và chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của họ như “hoa đạo”, “trà đạo”, “võ sĩ đạo”, “kiếm đạo”, “cung đạo”, “thư đạo”, nghệ thuật gấp giấy origami,.. và họ thể hiện ý thức đặc biệt đối với cái đẹp như ngắm hoa hanami, ngắm trăng tsukimi; quan niệm “cái nhỏ là cái đẹp, cái tinh tế” …; trong công việc luôn làm hết mình, trong xử sự luôn theo quy tắc nghiêm ngặt, theo đẳng cấp, ngay đến cả cái chết tự sát vì lòng trung thành cũng dữ dội và trở nên cao cả như “mổ bụng” (harakiri hay seppuku) hay sằn sàng làm việc hết sức cho công việc…. Những điều này ăn sâu vào trong cách xử thế, ý nghĩ và nguyện vọng của dân tộc Nhật, tạo thành những truyền thống văn hoá riêng đặc sắc và thể hiện lòng tự hào, tự tôn dân tộc của họ. Họ kế thừa, củng cố những nét văn hoá đó và vay mượn, cải biến nền văn hoá nước ngoài, biến thành một bộ phận trong văn hoá truyền thống của họ.
Lịch sử Nhật Bản cũng là lịch sử độc đáo với một Hoàng gia duy nhất, vị đại diện tối cao của Thần đạo (Shinto) tôn thờ các thần Kami như thần cây, thần đá… – các Thiên Hoàng với dòng dõi truyền thuyết là con cháu nữ thần Mặt trời Aramatesu, tồn tại như là sự thống nhất của nhân dân cho đến tận ngày nay; và trên nước Nhật có nhiều cuộc nội chiến liên miên giữa các lãnh chúa phong kiến. Điều kiện lịch sử – xã hội phong kiến với sự cát cứ, tranh dành khiến lòng trung thành là điều rất quan trọng. Cùng với sự tiếp thu có chọn lọc và biến những tư tưởng của Khổng Tử tạo thành Nho giáo riêng Nhật Bản, với tinh thần Võ sĩ đạo (Bushido) coi lòng trung thành (chuu) với người chủ là trên tất cả… Sang đến thế kỷ XIX, đứng trước yêu cầu mới hoặc là phải mạnh mẽ để thoát khỏi số phận trở thành thuộc địa của phương Tây hoặc là chịu chung số phận với các nước châu Á khác, phong kiến Nhật Bản đã chọn con đường nhìn ra thế giới, thực hiện cách mạnh Minh Trị duy tân (1868) mọi mặt xã hội và học tập, phát triển mạnh mẽ – và trở thành nước duy nhất ở Châu Á thoát khỏi số phận lệ thuộc và đứng ngang hàng với phương Tây hùng mạnh và còn đi xâm lược nước khác, khiến phương Tây phải kinh sợ. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, họ lại nhanh chóng phục hồi nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá thảm bại thành một nền kinh tế “phát triển thần kỳ” và mạnh mẽ cho đến tận ngày nay. Nhật Bản lại tiến ra đi khắp thế giới mở rộng với kiểu cách thức buôn bán kinh doanh đặc trưng của họ … Người Nhật ngày nay vừa phát huy truyền thống văn hoá kinh doanh của họ và họ cũng đang dần thay đổi tính cách, tâm lý của họ để dễ làm ăn quan hệ với nước ngoài, học hỏi nước ngoài để làm phong phú và hoàn thiện hơn nền văn hoá kinh doanh của họ, đem lại lợi ích cho quốc gia của họ, và giữ vững vị trí cướng quốc kinh tế nhất nhì của họ, ….
Tóm lại, người Nhật là chủ thể của nền văn hoá, trong đó có văn hoá kinh doanh của họ. Tính cách tâm lý, cách xử thế, suy nghĩ, tư tưởng và hành vi của họ là những nhân tố quyết định trong văn hoá kinh doanh của họ.
(Theo Saga.vn)




Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2013

Cách dùng đũa: nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của người Nhật


Nhận xét về văn hoá ăn, có nhà nghiên cứu đã nói: Phương Đông ăn kiểu chim, phương Tây ăn kiểu thú”. Ấy là nói về việc đa số người Phương Tây sử dụng dao, thìa, dĩa… để cắt xé thức ăn (giống như các loài thú thường hay dùng móng vuốt để xé nhỏ con mồi) trong khi đó người Phương Đông thường sử dụng đũa để gắp và và thức ăn (giống như các loài chim dùng mỏ của nó). Vì thế trong ăn uống, người Phương Tây có văn hoá dùng thìa dĩa thì người Phương Đông có văn hoá dùng đũa.

Như các nước thuộc nền văn hoá Phương Đông, người Nhật Bản cũng thường sử dụng đũa để và và gắp thức ăn trong các bữa ăn hàng ngày. Tuy vậy ở mỗi nước văn hoá dùng đũa lại có những nét chung và riêng. Ở Nhật Bản, đũa cũng có thể làm bằng nhiều chất liệu khác nhau như tre, gỗ, sừng, sắt... nhưng ở mỗi chất liệu, đôi đũa lại mang trong mình một giá trị khác.

Xa xưa, đôi đũa bằng ngà voi chắc chắn có giá trị hơn so với đôi đũa gỗ, tre... đôi đũa sắt chỉ là sản phẩm xuất hiện khi trình độ kỹ thuật của con người có một bước "nhảy vọt" đáng kể. Trong quá trình giao lưu văn hóa với người Trung Quốc, các nhà buôn, các sư sãi đã du nhập đũa vào Nhật Bản. Người Nhật bắt đầu sử dụng đũa trong cung đình sau đó lan ra các gia đình quan lại giàu có vào khoảng thời gian từ năm 710 đến 794 (Thời kỳ Nara trong lịch sử Nhật Bản).

Đũa trong cung đình Nhật Bản lúc đó có sự phân biệt đẳng cấp rõ ràng. Đũa của vua và những người thuộc hoàng tộc thì ngắn. Đũa của các quan lại dài hơn. Khoảng thời gian từ 1185 trở đi, đũa được dùng phổ biến trong đời sống nhân dân Nhật Bản nhưng quan niệm đũa dài, ngắn trong dân gian thì ngược lại với cung đình. Đũa của cha mẹ phải dài hơn đũa của con cái. Đũa của chồng dài hơn đũa của vợ đũa của anh dài hơn đũa của em.

Thời xưa muốn chứng tỏ mình thuộc tầng lớp "quyền quý", vua, quan và những người giàu có thường dùng đũa một lần sau đó đem vứt đi và dần dần tục lệ này cũng trở nên phổ biến trong đời sống người thường dân. Cũng từ 1185 trở đi, mỗi năm vào thời điểm cấy lúa (mùa xuân) và dịp thu hoạch lúa (mùa thu) người dân Nhật lại có phong tục thay đũa mới. Họ quyết định lấy ngày 4- 8 làm "ngày hội đũa" trên toàn quốc.

Số 4 trong tiếng Nhật phát âm là Si (Shi), số 8 phát âm là Hachi (Hachi) mà HaShi lại là đôi đũa nên ngày 4-8 được gọi là ngày hội đũa. Ngày nay, ở Nhật Bản trưng bày rất nhiều loại đũa bằng các chất liệu, màu sắc khác nhau. Ở không ít gia đình có tục lệ thay đổi đũa mới trong ngày hội đũa.

So với đũa Trung Quốc, Việt Nam... đũa Nhật Bản làm bằng gỗ, ngắn hơn và dễ sử dụng hơn. Theo quan điểm của Richard Bowring (người Anh), một nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Nhật Bản cho rằng: "Đũa Trung Quốc dài và hơi to quá nên khó sử dụng".

Dưới con mắt người Nhật, đôi đũa có giá trị hơn khi nó trở thành chủ đề thẩm mỹ học gắn nhiều với phong tục, tập quán. Ở Nhật Bản, một món ăn truyền thống, nổi tiếng là món Sashimi sẽ dễ bị hỏng nếu như người Nhật sử dụng các dụng cụ ăn bằng kim loại như dao, dĩa... theo kiểu người phương Tây.

Trên bàn ăn người Nhật dùng một đôi đũa chung để gắp thức ăn vào bát của riêng mình. Nếu không có đôi đũa chung, họ phải trở đầu đũa ăn của mình để gắp thức ăn sau đó trở lại đầu đũa cũ để ăn. Đây không đơn thuần là vấn đề vệ sinh mà còn gắn với phong tục: trong tang lễ Nhật Bản, người thân phải dùng đũa gắp xương ngừơi đã khuất sau khi hỏa táng và chuyền cho nhau.

Ngoài ra, họ còn tránh dùng đũa gắp thức ăn đã bị rơi, không cắm đũa vào bát cơm vì nó gợi lên hình ảnh chết chóc. Điều thú vị hơn cả là người đi cắm trại, đi picnic nhất thiết không được quên tục lệ: đôi đũa dùng xong phải bẻ đôi tránh ma quỷ tận dụng những đôi đũa đó làm điều xấu, điều ác.

Người Nhật ngày nay cũng như người Trung Quốc, người Việt Nam ăn xong sẽ rửa sạch đũa để dùng lại. Ở mỗi gia đình, mỗi ngừơi có một đôi đũa riêng, khách đến nhà sau khi dùng xong bữa thì đũa của họ ăn gia chủ sẽ vứt đi - biểu hiển sự trong sạch của người dân xứ sở Mặt trời mọc.

Người Nhật Bản rất cầu kỳ trong ăn uống, trong việc chế biến, nấu nướng các món ăn cũng như sử dụng các vật dụng ăn uống. Nếu bạn thực sự muốn tìm hiểu nét văn hoá đặc sắc này của Nhật thì bạn có thể đến các nhà hàng Nhật Bản, nơi đó có những món ăn đẹp mắt, độc đáo đựng trong những chiếc bát, chiếc đĩa… rất xinh xắn có nguồn gốc “made in Japan” đấy.

(Sưu tầm).